Soạn bài Bố cục và phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận | Daohongdonvenus.com

Soạn văn là công việc mà những bạn học sinh cũng phải làm trước khi đến lớp. Vì vậy để giúp cho công việc này, sau đây chúng tôi xin giới thiệu tài liệu soạn văn lớp 7: Bố cục và phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận.

Tài liệu này của chúng tôi sẽ gồm hai phần chính: soạn bài đầy đủ và soạn bài ngắn gọn. Hi vọng rằng với tài liệu này thì các bạn có thể hiểu rõ hơn về bố cụ và phương pháp lập luận trong văn nghị luận. Sau đây chúng tôi xin mời các thầy cô và các bạn cùng tham khảo tài liệu.

Soạn văn Bố cục và phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận đầy đủ

I. Kiến thức cơ bản

Đọc lại bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Xem sơ đồ dưới đây theo hàng ngang, hàng dọc và nhận xét về bố cục và cách lập luận, tức phương pháp xây dựng luận điểm ở trong bài.

(Gợi ý: Bài có mấy phần? Mỗi phần có mấy đoạn? Mỗi đoạn có những luận điểm nào? Hàng ngang (1) lập luận theo quan hệ nhân – quả, hàng ngang (3) lập luận theo quan hệ tổng – phân – hợp, hàng ngang (4) là suy luận tương đồng. Hàng dọc (1) suy luận tương đồng theo dòng thời gian.)

Trả lời:

Văn bản “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” có bố cục ba phần:

– Phần Mở bài nêu lên vấn đề sẽ bàn luận: tinh thần yêu nước của nhân dân ta – luận điểm lớn;

– Phần Thân bài cụ thể hoá luận điểm lớn bằng các luận điểm nhỏ:

+ Tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong quá khứ;

+ Tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong hiện tại;– Phần Kết bài: khẳng định những luận điểm đã trình bày: Bổn phận chúng ta ngày nay trong việc phát huy tinh thần yêu nước.

II. Rèn luyện kỹ năng

Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi

HỌC CƠ BẢN MỚI CÓ THỂ TRỞ THÀNH TÀI LỚN

Ở đời có nhiều người đi học, nhưng ít ai biết học cho thành tài.

Danh họa I-ta-li-a Lê-ô-na đơ Vanh-xi (1452-1519) thời còn bé, cha thấy có năng khiếu hội họa, mới cho theo học danh họa Vê-rô-ki-ô(a). Đơ Vanh-xi thì muốn học cho nhanh, nhưng cách dạy của Vê-rô-ki-ô rất đặc biệt. Ông bắt cậu bé học vẽ trứng gà mấy chục ngày liền, làm cậu ta phát chán. Lúc bấy giờ thầy mới nói: “Em nên biết rằng trong một nghìn cái trứng, không bao giờ có hai cái có hình dáng hoàn toàn giống nhau! Cho dù là một cái trứng, chỉ cần ta thay đổi góc nhìn nó lại hiện ra một hình dáng khác. Do vậy nếu không cố công luyện tập thì không vẽ đúng được đâu!”. Thầy Vê-rô-ki-ô còn nói, vẽ đi vẽ lại cái trứng còn là cách luyện mắt cho tinh, luyện tay cho dẻo. Khi nào mắt tinh tay dẻo thì mới vẽ được mọi thứ. Học theo cách của thầy quả nhiên về sau Đơ Vanh-xi trở thành họa sĩ lớn của thời Phục Hưng.

Câu chuyện vẽ trứng của Đơ Vanh-xi cho người ta thấy chỉ ai chịu khó luyện tập động tác cơ bản thật tốt, thật tinh thì mới có tiền đồ. Và cũng chỉ có những ông thầy lớn mới biết dạy cho học trò những điều cơ bản nhất. Người xưa nói, chỉ có thầy giỏi mới đào tạo được trò giỏi, quả không sai.

(Theo Xuân Yên)

a) Bài văn nêu lên tư tưởng gì? Tư tưởng ấy thể hiện ở những luận điểm nào? Tìm những câu mang luận điểm.

b) Bài có bố cục mấy phần? Hãy cho biết cách lập luận được sử dụng ở trong bài.

(Gợi ý: Câu mở đầu đối lập nhiều người và ít ai là dùng phép lập luận gì? Câu chuyện Đơ Vanh-xi vẽ trứng đóng vai trò gì trong bài? Hãy chỉ ra đâu là nhân, đâu là quả trong lập luận ở đoạn Kết bài.)

Trả lời:

a. Bài văn nêu tư tưởng: Vai trò của học cơ bản đối với một nhân tài.

Luận điểm chính của bài văn thể hiện rõ từ nhan đề của bài văn: học cơ bản mới có thể trở thành tài lớn; nói cách khác: để trở thành tài phải học từ cơ bản.

Để thể hiện được luận điểm, người viết đã thiết lập lí lẽ và dẫn chứng:

– Ở đời có nhiều người đi học, nhưng ít ai biết học cho thành tài.

– Tác giả nêu chuyện Lê-ô-na đơ Vanh-xi học vẽ trứng (người viết đã mượn câu chuyện về hoạ sĩ thiên tài làm thành luận cứ thuyết phục cho tư tưởng học cơ bản mới có thể trở thành.

b.

– Lập luận của toàn bài, lập luận chiều dọc: Quan hệ tổng phân hợp.

– Bố cục ba phần :

+ Mở bài: lập luận theo quan hệ tương phản.

+ Thân bài : Kể lại một câu chuyện để làm rõ luận điểm.

+ Kết bài: lập luận theo quan hệ nguyên nhân – kết quả. tài lớn.)

– Chỉ ai chịu khó luyện tập động tác cơ bản thật tốt, thật tinh thì mới có tiền đồ.

Soạn văn Bố cục và phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận ngắn gọn

I. Mối quan hệ giữa bố cục và lập luận

Trả lời câu hỏi (Trang 30 sgk Ngữ văn 7 tập 2)

– Về bố cục văn bản (3 phần) :

+ Mở bài : Nêu vấn đề.

+ Thân bài : Triển khai luận điểm, luận cứ.

+ Kết bài : Khẳng định lại.

– Về lập luận : sử dụng nhiều phương pháp lập luận khác nhau như quan hệ nhân – quả, tổng – phân – hợp, theo suy luận tương đồng.

+ Lập luận chặt chẽ với mục đích làm sáng rõ luận điểm.

II. Luyện tập

Trả lời câu hỏi (trang 31 sgk Ngữ văn 7 tập 2)

a. Bài văn nêu lên tư tưởng : Học cơ bản mới có thể thành tài.

– Các luận điểm :

+ Ở đời có nhiều người đi học, nhưng ít có ai biết học cho thành tài.

+ Chỉ thầy giỏi mới đào tạo được trò giỏi.

b. Bố cục bài văn :

– Mở bài : Dùng lối lập luận đối chiếu so sánh để nêu luận điểm “ít ai biết học cho thành tài”.

– Thân bài : Kể lại một câu chuyện để làm rõ luận điểm.

– Kết bài : Lập luận theo quan hệ nhân quả.

Cách lập luận chung cho toàn bài là lập luận theo quan hệ tổng-phân-hợp.