Soạn bài Tìm hiểu yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận trang 95 | Daohongdonvenus.com

Nhằm giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn nghị luận, trong chương trình Ngữ văn lớp 8 sẽ được tìm hiểu các yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận. Download.vn mời bạn đọc tham khảo tài liệu Soạn văn 8: Tìm hiểu yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận. Nội dung chi tiết của tài liệu được đăng tả dưới đây.

Soạn văn Tìm hiểu yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận

I. Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận

1. Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi

a.

– Những từ ngữ biểu lộ tình cảm mãnh liệt của tác giả: muốn hòa bình, phải nhân nhượng, càng nhân nhượng, càng lấn tới, thà hi sinh, nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ, phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, nhất định thắng lợi.

– Những câu văn cảm thán:

  • Không!
  • Hỡi đồng bào toàn quốc!
  • Hỡi anh em hình sĩ, tự vệ, dân quân!
  • Hỡi đồng bào!
  • Chúng ta phải đứng lên!
  • Việt Nam độc lập thống nhất muôn năm!

– Cách dùng từ ngữ của văn bản “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chí Minh và “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn giống nhau ở việc sử dụng nhiều từ ngữ và câu văn có giá trị biểu cảm cao.

b.

Nguyên nhân:

– Cả hai tác phẩm được viết ra nhằm mục đích nghị luận chứ không phải biểu cảm (nêu quan điểm, ý kiến bàn luận phải trái, đúng, sai, nên suy nghĩ, sông và hành động như thế nào).

– Trong hai văn bản này, các yếu tố biểu cảm không đóng vai trò chủ đạo mà chỉ có tính chất phụ trợ cho vấn đề nghị luận được đưa ra.

c. Các câu cột 2 hay hơn các câu cột 1 vì có chứa những từ ngữ biểu cảm, câu cảm thán làm cho câu văn giàu hình ảnh, sinh động, gây ấn tượng cho người đọc người nghe.

2. Thông qua việc tìm hiểu các văn bản như “Hịch tướng sĩ” và “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, em hãy cho biết: Làm thế nào để phát huy hết tác dụng của yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận?

a. Người làm văn chỉ cần suy nghĩ về luận điểm và lập luận hay còn phải thật sự xúc động trước từng điều mình đang nói tới?

b. Chỉ có rung cảm không thôi đã đủ chưa? Phải chăng chỉ cần có lòng yêu nước và căm thù giặc nồng cháy là có thể dễ dàng tìm ra những cách nói như: “Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả…” hay “uốn lưỡi cú diều…”? Để viết được những câu như thế, người viết cần phải có phẩm chất gì khác nữa?

c. Có bạn cho rằng: Càng dùng nhiều từ ngữ biểu cảm, càng đặt nhiều câu cảm thán thì giá trị biểu cảm trong văn nghị luận càng tăng. Ý kiến ấy có đúng không? Vì sao?

Gợi ý: 

Phương pháp phát huy tác dụng của yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận:

a. Người viết ngoài việc suy nghĩ về luận điểm, lập luận còn phải thực sự xúc động trước những điều mình đang nói tới.

b. Chỉ rung cảm chưa đủ. Ngoài ra cần phải có quan điểm rõ ràng để lập luận một cách chính xác những vấn đề mà mình trình bày.

c. Ý kiến chưa chính xác. Các từ ngữ, câu văn có giá trị biểu cảm chỉ mang tính hỗ trợ. Nếu sử dụng nhiều quá sẽ khiến bài viết mang tính chủ quan, không thuyết phục.

 Tổng kết:

– Văn nghị luận rất cần yếu tố biểu cảm. Yếu tố biểu cảm giúp cho văn nghị luận có hiệu quả thuyết phục lớn hơn, vì nó tác động mạnh mẽ tới tình cảm của người đọc (người nghe).

– Để bài văn nghị luận có sức biểu cảm cao, người làm văn phải thật sự có cảm xúc trước những điều mình viết (nói) và phải biết diễn đạt cảm xúc đó bằng những từ ngữ, câu văn có sức truyền cảm. Sự diễn tả cảm cần phải chân thực và không được phá vỡ mạch lạc nghị luận của bài văn.

II. Luyện tập

Câu 1. Hãy chỉ ra các yếu tố biểu cảm trong phần I – Chiến tranh và “người bản xứ” (ở văn bản Thuế máu) và cho biết tác giả đã sử dụng những biện pháp gì để biểu cảm. Tác dụng biểu cảm đó là gì?

Gợi ý:

a.

– Các yếu tố biểu cảm trong phần I – Chiến tranh và người bản xứ (ở văn bản Thuế máu) được thể hiện qua những hình ảnh so sánh, liên tưởng, những từ ngữ đối lập nhau:

  • “Những tên da đen bẩn thỉu” với “những đứa con yêu, những người bạn hiền, những chiến sĩ bảo vệ công lý và tự do”.
  • “Chiến tranh vui tươi” với “rời xa vợ con, phơi thây trên các bãi chiến trường”.
  • “Cảnh kì diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi” với “xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thủy quái”.

Những hình ảnh liên tưởng:

  • Bỏ xác tại những miền hoang vu, thơ mộng
  • Lấy máu mình tưới lên những vòng nguyệt quế…
  • Khạc ra từng miếng phổi

b. Tác dụng của những từ ngữ này

– Giúp người đọc thấy rõ được bộ mặt thâm độc, giả nhân giả nghĩa cũng như âm mưu quỷ quyệt của bọn thực dân Pháp.

– Những từ ngữ này làm cho tính mỉa mai, trào phúng của bài viết mạnh mẽ hơn.

Câu 2. Đọc đoạn nghị luận sau đây và cho biết: Những cảm xúc gì đã được biểu hiện qua đoạn văn? Tác giả đã làm thế nào để những đoạn văn đó không chỉ có sức thuyết phục lý trí mà còn gợi cảm?

Gợi ý:

– Đoạn trích đã thể hiện:

  • Nỗi buồn của tác giả – một nhà giáo tâm huyết với nghề dạy học – trước tình trạng học tủ, học vẹt của học sinh.
  • Những dằn vặt, trăn trở của một nhà giáo trước một thực tế đáng buồn diễn ra trong đời sống giáo dục nước nhà trước đây.

– Tình cảm ấy thể hiện:

  • Từ ngữ bộc lộ cảm xúc: giãi bày hết, nỗi khổ tâm, nói làm sao.
  • Câu văn thể hiện nỗi buồn, thái độ bất bình: “Sự học mà đã hạ xuống là học “tủ” thì chúng tôi cũng không còn cần làm việc cùng các bạn nữa”.
  • Câu văn mang giọng điệu mỉa mai: “Sao không có một “hãng”… đến trường?”.

Câu 3. Viết một đoạn văn nghị luận để trình bày luận điểm “Chúng ta không nên học vẹt và học tủ” sao cho đoạn văn ấy vừa có lí lẽ chặt chẽ, lại vừa có sức truyền cảm.

Gợi ý:

Học tủ và học vẹt đang là tình trạng chung của nhiều học sinh hiện nay. Đầu tiên, có thể hiểu học vẹt là cách học làu làu không suy nghĩ, học mà không nắm rõ nội dung mình học là gì. Còn học tủ là chỉ học cầu may, rủi, đoán đề mà thành công. Hai phương pháp học đều gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho người học. Nó khiến cho học sinh hổng kiến thức, không nắm rõ được nội dung bài học. Khi học mà chỉ dựa theo mô típ có sẵn, hoặc chờ đợi vào may rủi sẽ hạn chế khả năng tư duy và sáng tạo. Chính vì lẽ đó mà mỗi chúng ta hãy ý thức cho riêng mình sự học quan trọng như thế nào. Hãy tìm ra cho bản thân một phương pháp học tập đúng đắn và phù hợp.